Dam thoai
Đàm thoại về cốt tủy
chung
của các tôn giáo
Trong suốt lịch sử nhân loại, các tôn giáo đã xuất hiện như
những nỗ lực khác nhau của con người nhằm đáp lại tiếng gọi thầm lặng từ chiều
sâu tâm linh. Mỗi truyền thống mang theo một ngôn ngữ, một biểu tượng và một kinh
nghiệm riêng, nhưng tất cả đều phát sinh từ cùng một thao thức: tìm kiếm ý
nghĩa cho đời sống và hướng về một Thực Tại siêu việt vượt khỏi chính mình. Khi
nhìn vào tầng sâu ấy, ta nhận ra rằng sự khác biệt giữa các tôn giáo không phải
là bức tường ngăn cách, mà là những cách diễn đạt đa dạng, khác biệt của cùng một
khát vọng thiêng liêng.
Cuộc đàm đạo này muốn gợi mở một cái nhìn rộng hơn, giúp
người Kitô hữu cũng như tín đồ các tôn giáo khác nhận ra những điểm gặp gỡ căn
bản, để từ đó hiểu nhau hơn và bước vào đối thoại với tâm thế khiêm tốn, tôn trọng
và chân thành.
o0o
Chí Tâm:
Tôi từng tìm hiểu nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau, và càng tìm hiểu tôi
càng thấy các tôn giáo quá đa dạng, quá khác biệt nhau. Nhưng tôi vẫn tự hỏi:
liệu các tôn giáo có một cốt tuỷ chung nào đó không? Hay mỗi tôn giáo là một thế
giới hoàn toàn biệt lập? Mới đây, tôi đọc đâu đó một bài viết trên mạng cho rằng
các tôn giáo tuy khác biệt nhau nhưng vẫn có một «cốt tủy chung». Nghe thì hay, nhưng thiệt tình tôi không hiểu. Đạo
nào cũng có giáo lý riêng, nghi lễ riêng, cách tu tập riêng. Vậy nếu thật sự có
«cốt tủy chung» thì «chung» ở
chỗ nào?
Minh Trí: À, tôi cũng có đọc một bài như vậy, và
tôi có khuynh hướng nghiêng về khả năng có một nền tảng chung. Nếu nhìn bề
ngoài thì đúng là khác nhau nhiều lắm. Nhưng nếu nhìn sâu vào mục đích, vào cái
mà con người thật sự kiếm tìm, thì lại có những điểm chung giống nhau. Người ta
gọi những điểm chung sâu xa ấy vốn có trong mọi tôn giáo là «cốt tủy chung».
Chí Tâm:
Anh thử kể một vài điểm chung xem.
Minh Trí: Này nhé! Con người thuộc bất kỳ tôn
giáo nào cũng đều đặt câu hỏi về nguồn gốc, ý nghĩa, về vấn đề thiện ác và cả
cái chết nữa. Những câu hỏi ấy đâu có thuộc riêng một tôn giáo nào. Công đồng
Vatican II trong Tuyên Ngôn về các tôn giáo ngoài Kitô giáo nói rằng: trong các
tôn giáo khác cũng có «những
tia sáng của Chân Lý» đấy thôi! (x. Nostra Aetate, 2).
Thông Mẫn:
Khoan đã. Nói vậy nghe hơi… lý tưởng đấy! Nếu đã có cái chung, sao người ta vẫn
cãi nhau, chia rẽ, thậm chí đánh phá, đả kích, chê bai tôn giáo của nhau?
Minh Trí: Vì người ta đâu có nhìn thấy cái chung ấy,
mà chỉ thấy toàn là những khác biệt thôi. Những khác biệt thì hiển hiện ra bên
ngoài ai cũng thấy, còn những cái giống nhau thì nó nằm sâu trong cốt tủy,
trong cái lõi của mỗi tôn giáo, nên chỉ những người tìm hiểu chiều sâu của mỗi tôn
giáo mới nhận ra thôi.
Thông Mẫn:
Vậy ngoài những câu hỏi mà mọi người đều đặt ra như anh vừa nói, thì còn gì
chung nữa?
Chí Tâm:
Ừ, đúng rồi, tôi cũng muốn biết thêm những cái «chung» đó là cái gì?
Minh Trí: Nói đơn giản: Ai cũng muốn hạnh phúc, ai
cũng muốn thoát khổ, ai cũng muốn sống tử tế, ai cũng muốn tìm ý nghĩa cho cuộc
đời mình. Dù là đạo Phật, đạo Chúa, đạo Ông Bà, hay người không theo đạo nào,
thì cái mong muốn sâu xa ấy đều giống nhau.
Thông Mẫn:
Nhưng đó là mong muốn của con người, chứ đâu phải là giáo lý. Giáo lý mỗi đạo mỗi
khác, thậm chí khác xa nhau nữa.
Minh Trí: Đúng, giáo lý thì khác. Nhưng mục tiêu
của mọi giáo lý thì lại hướng về cùng một chỗ: giúp con người sống tốt hơn, bớt
tham sân si đi, biết yêu thương nhau hơn, biết tha thứ cho nhau, biết sống có
trách nhiệm. Cách diễn đạt và giáo lý tuy khác nhau, nhưng hướng đi đến thì đều
giống nhau.
Chí Tâm:
Xin anh cho những ví dụ cụ thể đi, để tôi dễ hiểu hơn.
Minh Trí: Ví dụ như: Đạo Phật dạy từ bi. Đạo Chúa
thì dạy bác ái. Đạo Khổng nói nhân nghĩa. Người đời thường thì nói sống có tình
có nghĩa. Cách gọi tuy khác nhau, nhưng tất cả đều chỉ về lòng thương người đấy
thôi.
Thông Mẫn:
Nhưng mỗi đạo lại có cách thực hành khác nhau. Người thì tụng kinh, người thì đọc
kinh thánh, người thì cúng bái, người thì dâng thánh lễ, vân vân. Vậy sao gọi
là «chung»?
Minh Trí: Mấy cái đấy thì chỉ là phương tiện thôi.
Còn cái «chung» là sự hiểu biết về
chân lý, về sự thiện hảo, về sự linh thiêng thì có tôn giáo nào mà không hướng
tới?
Chí Tâm:
Nếu đã có cái chung, sao người ta vẫn hay tranh cãi đạo nào đúng, đạo nào sai?
Minh Trí: Vì người ta thường chỉ nhìn vào hình thức
bên ngoài, chứ không nhìn vào cốt tủy bên trong. Nhìn hình thức thì thấy khác
nhau, thậm chí còn thấy mâu thuẫn nhau nữa. Nhưng nếu nhìn được cái cốt tủy bên
trong thì mới thấy giống.
Thông Mẫn:
Nhưng cũng có biết bao người cực đoan thiệt mà. Họ tin rằng chỉ có đạo của họ mới
đúng, còn mọi đạo khác đều sai hết.
Minh Trí: Đúng vậy. Nhưng đó là do nhận định chủ
quan của họ thôi, đâu phải là do tôn giáo. Tôn giáo nào cũng dạy yêu thương,
nhưng con người thì đôi khi lại thích tranh hơn thua, muốn đề cao «cái tôi»
cá nhân hay «cái tôi» tập thể của họ thôi.
Chí Tâm:
Vậy rốt cuộc «cốt tủy chung» của các
tôn giáo là cái gì?
Minh Trí: Cốt tủy dễ nhận ra nhất, đó là: sống yêu
thương, sống có trách nhiệm, sống tỉnh thức, biết mình đang làm gì, sống hướng
thiện, sống hòa hợp với người khác và với chính mình. Đó là cái mà tôn giáo nào
cũng nhắm tới.
Thông Mẫn:
Nghe vậy thì tôi thấy… đúng. Nhưng sao người ta không nói thẳng ra, mà lại chia
ra làm nhiều đạo như vậy?
Minh Trí: Vì con người ở mỗi thời, mỗi nơi, mỗi
văn hóa khác nhau. Nên cách diễn đạt chân lý cũng khác nhau. Nhưng chân lý thì
chỉ có một. Tương tự như người Việt thì ăn cơm, người Tây ăn bánh mì, Người Mỹ
ăn khoai tây… dù ăn những thứ khác nhau như vậy, nhưng rốt cuộc tất cả đều chỉ ăn
3 chất căn bản là chất đường, chất béo và chất đạm, tức glucid, lipid và
protid. Đó là 3 chất cốt tủy của tất cả mọi thứ thực phẩm khác nhau của mọi dân
tộc trên thế giới.
Chí Tâm:
Nếu nói cho người bình dân, thì nên hiểu thế nào cho dễ?
Minh Trí: Hiểu đơn giản: Đạo nào giúp mình sống tốt
hơn, bớt làm điều xấu, biết thương người, biết sống tử tế, thì đạo đó đang dẫn
mình về cốt tủy chung. Nếu hai bạn có dịp giao tiếp với những người thật sự sống
và thực hành thật đúng giáo huấn của tôn giáo họ, thì điều kỳ lạ là đời sống của
họ đều rất giống nhau ở những đặc tính mà thánh Phaolô gọi là «hoa trái của
Thánh Linh», đó là: «bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ
tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ» (Gl 5:22); hay «nhẫn nhục, hiền hậu,
không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính,
không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian
ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật» (1Cr 13:4-6). Ai thật sự sống thánh
thiện, đạo hạnh, thì dù tôn giáo có khác nhau, thì họ đều giống nhau y hệt ở những
đặc điểm ấy. Như vậy chẳng phải là chính Thánh Linh đang hoạt động trong các
tôn giáo sao?
Chí Tâm:
Làm sao anh có thể kết luận như thế?
Minh Trí: Thì chính thánh Phaolô nói những điều tốt
lành ấy là «hoa trái của Thánh Linh», nghĩa là do chính Thánh Linh tác động,
thúc đẩy. Thánh Augustinô và Tôma Aquinô, trong các tác phẩm của mình, đều bàng
bạc những tư tưởng cho rằng mọi chân thiện mỹ đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, và
Thánh Thần là Đấng hoạt động trong lòng con người để sinh ra điều thiện. Thậm
chí còn nhấn mạnh rằng con người không thể tự mình làm điều thiện trọn vẹn,
chính Thiên Chúa, qua Thánh Linh của Ngài, phải ban sức mạnh nội tâm thì con
người mới có thể sống thiện hảo được.
Thông Mẫn:
Đúng vậy, những vị thánh thiện, đạo cao đức cả trong bất kỳ tôn giáo nào đều
hoàn toàn giống nhau ở đức tính mà anh vừa kể. Vậy là người ta không cần tranh luận
đạo nào đúng, đạo nào sai nữa sao?
Minh Trí: Đúng vậy. Chỉ cần hỏi: «Đạo đó có giúp tôi sống tốt hơn không?»
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, khi được hỏi «Làm
sao biết tôn giáo nào tốt hơn?», ngài giải thích đại ý là: «Đừng quan tâm quá nhiều đến
tên gọi tôn giáo. Điều quan trọng là: nó có giúp bạn bớt ích kỷ hơn không, bớt
nóng giận hơn không, có khiến bạn từ bi và yêu thương hơn không.»
Chí Tâm:
Tôi hiểu rồi. Cái chung không nằm ở nghi lễ, mà nằm ở tấm lòng.
Minh Trí: Thì các bạn thấy đấy, trong số tín đồ của
mọi tôn giáo, luôn luôn có những vị sống hết sức cao thượng, vị tha, hy sinh xả
kỷ cho tha nhân. Cũng có loại trung bình, và cũng có những tín đồ không thuộc
loại tốt. Tỉ lệ giữa những trình độ ấy trong các tôn giáo cũng ít nhiều tương tự
nhau. Điều đó chứng tỏ mức độ tác động của Thánh Linh trong các tôn giáo cũng
khá giống nhau.
Thông Mẫn:
Tôi cũng đồng ý. Nếu ai cũng nhìn vào cái chung này thì chắc chắn các tín đồ
tôn giáo sẽ bớt tranh cãi việc đúng sai, tốt xấu, và xã hội cũng sẽ bớt chia rẽ,
bớt xung đột.
Minh Trí: Đúng vậy. Đấy là «cốt tủy chung» mà ai suy nghĩ cũng có thể nhận ra được. Ý thức được
như vậy, ta sẽ biết tôn trọng sự khác biệt giữa các tôn giáo, vì biết rằng mọi
con đường khác nhau ấy đều hướng về điều thiện, về những gì là chân thật.
Chí Tâm:
Cái «cốt tủy chung» của các tôn giáo
mà anh vừa nói, anh bảo ai cũng có thể thấy được. Vậy, chắc rằng có cái «cốt
tủy chung» không phải dễ thấy phải không?
Thông Mẫn:
Đúng vậy. Nếu chỉ nói cái chung về đạo đức thì ai cũng nói được. Nhưng mỗi tôn
giáo đều khẳng định có một «Đấng», một
«Nguồn», một «Chân lý tuyệt đối». Mà mỗi nơi gọi mỗi kiểu. Vậy làm sao nói là «chung»?
Minh Trí: Hai bạn hỏi đúng chỗ rồi. Cái «chung» sâu xa nhất không nằm ở nghi lễ
hay đạo đức, mà nằm ở một thực tại mà ta có thể tạm gọi là «Thực Tại Tối Hậu»,
nghĩa là cái nền tảng tuyệt đối và cuối cùng của mọi hiện hữu trong vũ trụ, dù
nhỏ như hạt bụi, hay to lớn như mặt trời, hay bao la rộng lớn như giải Ngân Hà…
Chí Tâm:
Vậy xin nói cho tôi dễ hiểu: Thực Tại Tối Hậu là cái gì?
Minh Trí: Nói bình dân: Là cái Tuyệt Đối, không sinh,
không diệt, không thay đổi, không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian, là nguồn
gốc của vũ trụ, là trí tuệ điều hành mọi sự, là nền tảng để mọi hiện hữu có thể
hiện hữu. Tôn giáo nào cũng thừa nhận có một thực tại như vậy, dù cách gọi có khác
nhau, hay quan niệm về thực tại ấy có khác nhau.
Chí Tâm:
Có phải người Công giáo, Tin Lành, Chính Thống gọi Thực Tại Tối Hậu ấy là Thiên
Chúa, là Đức Chúa Trời, là Thượng Đế phải không?
Minh Trí: Đúng vậy! Đạo Chúa gọi Thực tại ấy là «Thiên Chúa». Nhưng Đạo Lão lại gọi Thực
tại ấy là «Đạo». Đạo Ấn gọi là «Brahman», Đạo Hồi gọi là «Allah»,
Đạo Cao Đài gọi là «Ngọc Hoàng Thượng Đế» hay «Cao Đài Tiên Ông»,
còn Đạo Phật thì gọi là «Chân như», «Tánh Không», «Pháp thân».
Thông Mẫn:
Chẳng những họ gọi bằng những danh hiệu khác nhau, mà những danh hiệu ấy đi kèm
với những quan niệm khác nhau, những mô tả khác nhau, có khi mâu thuẫn nhau nữa.
Chẳng hạn Đạo Thiên Chúa thì cho rằng vũ trụ này là do Thiên Chúa tạo dựng nên
từ hư không, còn Đạo Phật thì phủ nhận, cho rằng vũ trụ này tự nhiên có, chẳng
có ai dựng nên cả… Quan niệm về Thực Tại Tối Hậu khác nhau như vậy thì «cốt
tủy chung» ở chỗ nào?
Minh Trí: Khác nhau là ngôn ngữ và cách tiếp cận,
chứ không phải khác nhau trong bản chất đâu.
Thông Mẫn:
Đạo Chúa thì nói Thiên Chúa là một «Đấng», nghĩa là có «ngôi vị»
(person) tức là «hữu ngã», là có «cái tôi». Trong khi đó Đạo Phật
quan niệm «Chân như», «Tánh Không», «Pháp thân» đều là «vô ngã» tức không có «cái tôi».
Mâu thuẫn nhau như thế thì làm sao mà có điểm chung về Thực Tại Tối Hậu?
Minh Trí: Theo quan điểm «Thần học Phủ định» mà
thánh Augustinô và Tôma
Aquinô chủ trương, thì mọi xác định bằng ngôn ngữ con người về Thiên Chúa hay
Thực Tại Tối Hậu thì đều không chính xác. Vì «vô ngã» hay «hữu ngã»
chỉ là những từ ngữ nói lên những kinh nghiệm rất hạn chế của con người, không
thể áp dụng phù hợp cho một thực tại siêu việt và siêu nghiệm như Thực Tại Tối
Hậu được. Trong Trung Quán Luận của Phật giáo, Bồ Tát Long Thọ từng xác định: «Chư
Phật dạy: thật tướng của các pháp không có hữu ngã cũng không có vô ngã» (Kệ
tụng XVIII. 6), điều ấy khá giống quan điểm của «Thần học Phủ Định» của thánh
Augustinô và thánh Tôma Aquinô.
Chí Tâm:
Nhưng «vô ngã» và «hữu ngã» mâu thuẫn nhau quá như thế, làm sao
có thể áp dụng cho cùng một thực thể là Thực Tại Tối Hậu được?
Minh Trí: Điều đó cũng giống như trước một cái
chén (hay cái bát), người nói nó lõm, người lại nói nó lồi. Lõm và lồi rõ ràng
là mâu thuẫn nhau, nhưng đều cùng đúng cho cái chén cả, tùy theo vị thế của người
nhìn thấy nó thôi. Điều đó cũng tương tự như trường hợp «vô ngã» và «hữu
ngã» nói trên thôi. Nhưng khác ở chỗ cả hai từ «vô ngã» và «hữu
ngã» ấy chẳng có từ nào áp dụng đúng cho Thực Tại Tối Hậu vốn siêu việt với
tất cả mọi từ ngữ của con người.
Chí Tâm:
Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối, Vô Biên, Vô Hạn. Tôi nghe nói là «không thể có nhiều thực tại tuyệt đối»,
đúng không? Sao vậy?
Minh Trí: Vì «tuyệt
đối» nghĩa là: Không có gì ngoài nó, không bị giới hạn, không phụ thuộc vào
cái gì khác, không thay đổi, nên không thể có hai cái tuyệt đối cùng hiện hữu. Nếu
có hai «tuyệt đối», thì cái này phải
giới hạn cái kia, như vậy thì không còn tuyệt đối nữa.
Thông Mẫn:
Ừ, nghe cũng hợp lý. Cũng như hai cái «vô
biên» thì làm sao đứng cạnh nhau được.
Minh Trí: Đúng vậy. Các tôn giáo gọi Thực Tại Tối
Hậu của mình bằng những tên khác nhau, và diễn tả Thực tại ấy bằng những ý niệm
khác nhau. Nhưng tôn giáo nào cũng quan niệm Thực Tại Tối Hậu của mình là tuyệt
đối, vô biên, bất biến, là nguồn gốc phát sinh và điều hành tất cả mọi hiện hữu
trong vũ trụ vạn vật. Vậy thì tất cả những Thực Tại Tối Hậu được quan niệm như
thế làm sao có thể khác nhau được, chắc chắn phải là một Thực tại duy nhất.
Nghĩa là Thiên Chúa của Kitô giáo, Chân Như của Phật giáo, Đạo của Lão giáo,
Allah của Hồi giáo, Cao Đài Tiên Ông của đạo Cao Đài, hay Ông Trời mà người
bình dân thường gọi… Tất cả chỉ là một Thực tại duy nhất thôi.
Chí Tâm:
Nếu cùng một thực tại, sao mỗi đạo nói mỗi kiểu khác nhau như vậy?
Minh Trí: Vì con người ở mỗi thời, mỗi nền văn
hóa, mỗi truyền thống triết học khác nhau. Nên khi họ «chạm» vào Thực Tại Tối Hậu, họ diễn tả bằng ngôn ngữ của họ. Giống
như ba người đứng trước mặt trời: Người nói «ánh sáng», Người nói «nhiệt»,
Người nói «quả cầu lửa». Ba cách nói
khác nhau, nhưng cùng nói về một mặt trời duy nhất thôi.
Thông Mẫn:
Nhưng có đạo nói Thực Tại Tối Hậu có «ngôi
vị», có đạo nói «vô ngã», có đạo
nói «không thể gọi tên». Vậy sao gom
lại làm một?
Minh Trí: Vì đó là cách con người mô tả, không phải
bản thân Thực Tại Tối Hậu. Cái tuyệt đối thì vượt khỏi mọi khái niệm. Mỗi tôn
giáo chỉ nắm được một «góc nhìn».
Chí Tâm: Vậy có phải tôn giáo nào cũng có hai tầng cốt tủy?
Minh Trí: Đúng. Tầng 1 – Thực hành: Giúp con người
sống tốt, bớt khổ, biết yêu thương, biết tỉnh thức. Đây là phần dễ thấy, dễ đồng
thuận. Tầng 2 – Hữu thể học (ontology): Xác định rằng có một Thực Tại Tối Hậu
tuyệt đối, duy nhất, vô biên, là nền tảng của mọi hiện hữu. Đây mới là phần sâu
nhất.
Thông Mẫn:
Và chính tầng 2 này mới là «cốt tủy chung»
thật sự?
Minh Trí: Đúng. Vì nếu không có Thực Tại Tối Hậu,
thì mọi giáo lý chỉ là lời khuyên đạo đức. Còn khi có Thực Tại Tối Hậu, thì mọi
tôn giáo đều đang hướng về cùng một nguồn.
Chí Tâm: Nói vậy thì hơi cao siêu. Nếu nói cho người bình dân, thì hiểu sao?
Minh Trí: Hiểu đơn giản: Có một Nguồn Tuyệt Đối
làm cho vũ trụ hiện hữu. Nguồn đó duy nhất, không thể có hai. Các tôn giáo gọi
bằng tên khác nhau, nhưng đều chỉ về cùng một thực tại. Tu tập, đạo đức, yêu
thương là con đường để con người trở về gần hơn với Thực Tại ấy. Khác nhau ở
cách diễn tả, giống nhau ở mục tiêu.
Thông Mẫn:
Vậy là: Cái chung sâu nhất là Thực Tại Tối Hậu. Cái chung dễ thấy nhất là đạo đức
– tu tập.
Minh Trí: Chính xác.
7. Kết luận của cả
ba
Chí Tâm:
Giờ tôi mới hiểu: cái chung không chỉ là «sống
tốt», mà còn là «cùng hướng về một Thực
Tại Tuyệt Đối».
Thông Mẫn:
Và vì chỉ có một Thực Tại Tuyệt Đối, nên tôn giáo nào cũng đang đi về cùng một
đích, chỉ khác đường.
Minh Trí: Đó là lý do người ta nói: «Tôn giáo khác nhau, nhưng Chân Lý thì chỉ có
một.»
o0o
Khi nhìn xuyên qua những khác biệt về nghi lễ, giáo lý và
truyền thống, ta thấy các tôn giáo đều chung một mạch nguồn: khát vọng tìm kiếm
điều thiện, hướng về Đấng Siêu Việt và xây dựng một đời sống có ý nghĩa. Nhận
ra điều này không làm giảm giá trị của niềm tin riêng, mà giúp mỗi tôn giáo hiểu
sâu hơn sứ mạng của mình trong thế giới hôm nay: trở thành khí cụ của hoà bình,
của sự cảm thông và của tình người. Đối với Kitô hữu, đó cũng chính là tinh thần
của Tin Mừng – tinh thần nhìn nhận rằng Thiên Chúa hoạt động trong mọi dân tộc
và mọi truyền thống, và rằng ánh sáng của Người không bị giới hạn bởi biên giới
tôn giáo. Khi các tôn giáo biết trân trọng giá trị của nhau, họ không chỉ làm
phong phú chính mình, mà còn góp phần chữa lành những chia rẽ của nhân loại, mở
ra một tương lai nơi con người có thể gặp gỡ nhau trong sự thật, trong thiện
chí và trong lòng tôn trọng lẫn nhau.
Comments
Post a Comment